TÀI LIỆU DẠY HỌC

Hỗ trợ trực tuyến

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Nv_tv_dang_tuyen_truyen_gioi_thieu_sach.jpg Hoc_sinh_doc_muon_truyen_giua_gio_tai_diem_truong_Hua_Kieu.jpg Nhan_vien_TV_dang_cho_hs_muon_truyen_Tai_diem_truong_Quang_Son.jpg Hoc_sinh_doc_sach_giua_gio_tai_diem_truong_Quang_Son.jpg Hs_doc_sach.jpg Hs_doc_sach.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BÉ KHÉO TAY HỌC VẠN ĐIỀU HAY

    THƯ VIỆN LÀ KHO TÀNG CHỨA TẤT CẢ CỦA CẢI, TINH THẦN CỦA LOÀI NGƯỜI (G.V.LEIBINIZ)

    video giới thiệu sách

    Đội TNTP Hồ Chí Minh

    TIỂU SỬ Đ/C HOÀNG VĂN THỤ

    Luật Tổ chức chính quyền địa phương

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Phương Thảo
    Ngày gửi: 16h:01' 08-12-2025
    Dung lượng: 514.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Người ký: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
    Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn
    Cơ quan: VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
    Thời gian ký: 26.06.2025 15:20:48 +07:00

    8

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
    QUỐC HỘI

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Luật số: 72/2025/QH15

    LUẬT
    TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi,
    bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
    Quốc hội ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
    Chương I
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
    Điều 1. Đơn vị hành chính
    1. Đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ
    chức thành 02 cấp, gồm có:
    a) Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
    b) Xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
    Xã là đơn vị hành chính ở nông thôn; phường là đơn vị hành chính ở đô thị;
    đặc khu là đơn vị hành chính ở một số hải đảo có vị trí quan trọng được thành lập
    phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, đặc điểm dân cư và yêu cầu phát triển kinh
    tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
    2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là địa bàn có vị trí chiến lược, được tổ
    chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội,
    thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng
    lực cạnh tranh quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
    vùng và cả nước. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định
    thành lập.
    Điều 2. Tổ chức chính quyền địa phương
    1. Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 Điều 1
    của Luật này, trừ đơn vị hành chính quy định tại Điều 28 của Luật này, là cấp
    chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    9

    2. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội
    quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.
    Điều 3. Phân loại đơn vị hành chính
    1. Phân loại đơn vị hành chính là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển
    kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
    chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính.
    2. Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện
    tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng
    loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Chính phủ.
    Điều 4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
    1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện
    nguyên tắc tập trung dân chủ.
    Hội đồng nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
    Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; đồng
    thời đề cao thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
    2. Tổ chức chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả,
    đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương chuyên nghiệp, hiện đại, thực hiện hiệu quả
    ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của
    chính quyền địa phương, bảo đảm trách nhiệm giải trình gắn với cơ chế kiểm soát
    quyền lực.
    3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xây dựng chính quyền địa phương
    gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự
    kiểm tra, giám sát của Nhân dân; thực hiện đầy đủ cơ chế phản biện xã hội của Ủy
    ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.
    4. Bảo đảm nền hành chính minh bạch, thống nhất, thông suốt, liên tục.
    5. Những công việc thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương phải do
    chính quyền địa phương quyết định và tổ chức thực hiện; phát huy vai trò tự chủ
    và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.
    6. Phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và chính
    quyền địa phương; giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa
    phương cấp xã.

    10

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
    Điều 5. Hội đồng nhân dân
    1. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa

    phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
    nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng
    của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt
    động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
    phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
    2. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
    Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng
    nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
    3. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
    a) Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công
    cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
    b) Chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
    c) Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương
    mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
    lãng phí, tiêu cực, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi
    phạm pháp luật khác;
    d) Có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công
    tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động
    của Hội đồng nhân dân;
    đ) Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị
    hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân;
    e) Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân
    dân tín nhiệm.
    4. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm kể từ ngày khai mạc
    kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ
    nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới. Việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của
    Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ
    Quốc hội.

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    11

    5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng
    nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng nhân dân. Chính phủ
    hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan
    nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền
    hạn do luật định.
    Điều 6. Ủy ban nhân dân
    1. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
    cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
    nước ở địa phương, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội
    đồng nhân dân ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội
    đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
    2. Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương theo nhiệm
    kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ,
    Ủy ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới
    bầu ra Ủy ban nhân dân khóa mới.
    3. Chính phủ lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động của
    Ủy ban nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân.
    Điều 7. Quan hệ công tác giữa chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận
    Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương
    1. Chính quyền địa phương phối hợp và phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận
    Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận
    động Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực
    hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt
    động của chính quyền địa phương.
    2. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức
    chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân
    và được mời tham dự phiên họp của Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn về các vấn
    đề có liên quan.
    3. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình
    của địa phương cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội cùng cấp.

    12

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    4. Chính quyền địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và trả lời các
    kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
    ở địa phương tham gia xây dựng chính quyền; tiếp nhận, giải quyết và trả lời các ý
    kiến, kiến nghị của Nhân dân địa phương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
    tổng hợp và chuyển đến.
    Chương II
    TỔ CHỨC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÀ THÀNH LẬP, GIẢI THỂ,
    NHẬP, CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI
    VÀ ĐỔI TÊN ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
    Điều 8. Nguyên tắc tổ chức đơn vị hành chính và điều kiện thành lập, giải
    thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
    1. Việc tổ chức đơn vị hành chính được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
    a) Tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông
    suốt, liên tục của quản lý nhà nước;
    b) Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, phù hợp với
    đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo
    đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của từng địa phương;
    c) Phù hợp với năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương, mức độ
    ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; bảo đảm các công việc, thủ tục
    hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp và xã hội được tiếp nhận, giải
    quyết kịp thời, thuận lợi;
    d) Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính chưa đạt tiêu chuẩn theo
    quy định của pháp luật.
    2. Việc thành lập, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị
    hành chính phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
    a) Phù hợp quy hoạch có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
    b) Bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
    của chính quyền địa phương các cấp; phát huy tiềm năng, lợi thế nhằm thúc đẩy
    phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương;

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    13

    c) Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; việc thành
    lập đặc khu ở hải đảo còn phải bảo đảm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn
    vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh
    tế biển, thu hút người dân sinh sống tại đặc khu và phù hợp với chủ trương của cấp
    có thẩm quyền;
    d) Bảo đảm đoàn kết, bình đẳng các dân tộc, phù hợp với các yếu tố truyền
    thống lịch sử, văn hóa của địa phương; tạo thuận lợi cho Nhân dân;
    đ) Phải căn cứ vào tiêu chuẩn của đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm
    nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    3. Việc giải thể đơn vị hành chính chỉ thực hiện trong các trường hợp sau đây:
    a) Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa
    phương hoặc của quốc gia;
    b) Do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình tác động đến sự tồn tại của đơn vị
    hành chính đó;
    c) Do tổ chức lại đơn vị hành chính theo định hướng của cấp có thẩm quyền và
    theo quy định của pháp luật.
    Điều 9. Thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
    chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
    1. Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
    chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh.
    2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn
    vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã.
    Điều 10. Trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính,
    điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
    1. Chính phủ phân công Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì xây dựng đề án
    thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn
    vị hành chính cấp tỉnh trình Chính phủ để trình Quốc hội; Ủy ban nhân dân cấp
    tỉnh tổ chức xây dựng đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
    chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã trình Chính phủ để trình Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội.
    2. Hồ sơ đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
    giới và đổi tên đơn vị hành chính gồm có:

    14

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
    a) Tờ trình về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh

    địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
    b) Đề án về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
    địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
    c) Báo cáo tổng hợp ý kiến Nhân dân, ý kiến của Hội đồng nhân dân và các cơ
    quan, tổ chức có liên quan;
    d) Dự thảo nghị quyết của Quốc hội hoặc dự thảo nghị quyết của Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
    chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.
    3. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và
    đổi tên đơn vị hành chính phải được lấy ý kiến Nhân dân ở những đơn vị hành
    chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm
    tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị
    hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính bằng các hình thức
    phù hợp theo quy định của Chính phủ.
    4. Sau khi có kết quả lấy ý kiến Nhân dân, cơ quan xây dựng đề án có trách
    nhiệm hoàn thiện đề án. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
    chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh thì gửi Hội đồng
    nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia
    đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã thì gửi
    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân cấp xã ở các đơn vị hành chính
    có liên quan trực tiếp để xem xét, cho ý kiến.
    5. Đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
    và đổi tên đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phải được
    thẩm định trước khi trình Chính phủ và được thẩm tra trước khi trình Quốc hội, Ủy
    ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
    6. Việc lập đề án, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua đề án thành lập, giải thể,
    nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính thực
    hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình tự, thủ tục xem xét, thông
    qua đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi
    tên đơn vị hành chính cấp tỉnh tại kỳ họp Quốc hội do Quốc hội quy định.

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    15

    Chương III
    PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN CỦA
    CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CÁC CẤP
    Điều 11. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương
    1. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định
    trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ
    quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình
    thức phân quyền, phân cấp.
    2. Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các
    nguyên tắc sau đây:
    a) Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa
    phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;
    b) Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà
    nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của
    Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã;
    bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan
    nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và
    giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;
    c) Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế
    đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
    phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền
    hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực
    hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;
    d) Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có
    hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát
    của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều
    chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân
    quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
    đ) Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật;
    e) Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi
    mới sáng tạo và chuyển đổi số;

    16

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    g) Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên
    thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn
    đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm
    quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị
    quyết của Quốc hội có quy định khác.
    Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao
    cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên
    quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành
    chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa
    phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết
    những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo
    đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người
    dân, doanh nghiệp tốt hơn.
    3. Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền
    địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm
    pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật này, bảo đảm quyền lực nhà nước
    được kiểm soát hiệu quả. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban
    nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc
    nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc
    Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
    không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh
    nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.
    Điều 12. Phân quyền
    1. Việc phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp phải được quy định
    trong luật, nghị quyết của Quốc hội, trong đó xác định rõ chủ thể thực hiện, nội
    dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm các nguyên tắc phân định thẩm
    quyền và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp
    quy định tại Luật này.
    2. Chính quyền địa phương tự chủ trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và
    tự chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền; được
    phân cấp, ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền theo quy
    định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này, trừ trường hợp luật, nghị quyết của
    Quốc hội quy định không được phân cấp, ủy quyền.

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    17

    3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ đề nghị Quốc hội
    phân quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện
    nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
    Chính phủ có trách nhiệm xem xét, giải quyết đề xuất của Ủy ban nhân dân
    cấp tỉnh; trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
    4. Cơ quan nhà nước cấp trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
    có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát về tính hợp hiến, hợp pháp trong
    việc chính quyền địa phương các cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được
    phân quyền.
    Điều 13. Phân cấp
    1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc
    Hội đồng nhân dân cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
    cấp tỉnh phân cấp cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban
    nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện liên
    tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo
    quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp.
    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho
    đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý thực hiện liên tục, thường xuyên
    một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp
    luật để tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc quản trị
    đơn vị và cung ứng dịch vụ công, trừ trường hợp pháp luật quy định không được
    phân cấp.
    2. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ
    quan, cá nhân phân cấp. Cơ quan, cá nhân phân cấp chịu trách nhiệm bảo đảm các
    điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp, trừ trường hợp cơ
    quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có đề nghị và tự bảo đảm điều kiện
    thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
    3. Cơ quan, cá nhân phân cấp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra
    việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp, bảo đảm các nội dung phân cấp
    được thực hiện hiệu lực, hiệu quả; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
    quyền hạn mà mình phân cấp trong trường hợp không bảo đảm điều kiện theo quy
    định tại khoản 2 Điều này.

    18

    CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025

    4. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có quyền tham gia ý kiến
    đối với dự thảo văn bản phân cấp; đề nghị cơ quan, cá nhân phân cấp điều chỉnh
    nội dung phân cấp; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan, cá nhân phân
    cấp về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; định kỳ báo cáo,
    đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và không được phân
    cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được phân cấp.
    5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính
    phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phân cấp cho cơ quan, tổ chức, đơn
    vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
    với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
    Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương được đề xuất
    với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
    dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
    với khả năng nếu đáp ứng các yêu cầu về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện
    cần thiết khác.
    6. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
    Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau
    khi nhận được nội dung đề xuất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định
    tại khoản 5 Điều này có trách nhiệm xem xét, giải quyết; trường hợp không đồng ý
    thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
    7. Trường hợp cần phải thay đổ
     
    Gửi ý kiến