video giới thiệu sách
Đội TNTP Hồ Chí Minh
TIỂU SỬ Đ/C HOÀNG VĂN THỤ
Luật Tổ chức chính quyền địa phương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Phương Thảo
Ngày gửi: 16h:01' 08-12-2025
Dung lượng: 514.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Phương Thảo
Ngày gửi: 16h:01' 08-12-2025
Dung lượng: 514.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Người ký: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn
Cơ quan: VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
Thời gian ký: 26.06.2025 15:20:48 +07:00
8
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
QUỐC HỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Luật số: 72/2025/QH15
LUẬT
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đơn vị hành chính
1. Đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ
chức thành 02 cấp, gồm có:
a) Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
b) Xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
Xã là đơn vị hành chính ở nông thôn; phường là đơn vị hành chính ở đô thị;
đặc khu là đơn vị hành chính ở một số hải đảo có vị trí quan trọng được thành lập
phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, đặc điểm dân cư và yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là địa bàn có vị trí chiến lược, được tổ
chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội,
thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
vùng và cả nước. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định
thành lập.
Điều 2. Tổ chức chính quyền địa phương
1. Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 Điều 1
của Luật này, trừ đơn vị hành chính quy định tại Điều 28 của Luật này, là cấp
chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
9
2. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội
quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.
Điều 3. Phân loại đơn vị hành chính
1. Phân loại đơn vị hành chính là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính.
2. Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện
tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng
loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Chính phủ.
Điều 4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hội đồng nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; đồng
thời đề cao thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
2. Tổ chức chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương chuyên nghiệp, hiện đại, thực hiện hiệu quả
ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương, bảo đảm trách nhiệm giải trình gắn với cơ chế kiểm soát
quyền lực.
3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xây dựng chính quyền địa phương
gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự
kiểm tra, giám sát của Nhân dân; thực hiện đầy đủ cơ chế phản biện xã hội của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.
4. Bảo đảm nền hành chính minh bạch, thống nhất, thông suốt, liên tục.
5. Những công việc thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương phải do
chính quyền địa phương quyết định và tổ chức thực hiện; phát huy vai trò tự chủ
và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.
6. Phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và chính
quyền địa phương; giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa
phương cấp xã.
10
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
Điều 5. Hội đồng nhân dân
1. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa
phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng
của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng
nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
a) Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công
cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
b) Chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
c) Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương
mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi
phạm pháp luật khác;
d) Có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công
tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động
của Hội đồng nhân dân;
đ) Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị
hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân;
e) Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân
dân tín nhiệm.
4. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm kể từ ngày khai mạc
kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ
nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới. Việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của
Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
11
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng
nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng nhân dân. Chính phủ
hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn do luật định.
Điều 6. Ủy ban nhân dân
1. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội
đồng nhân dân ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội
đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
2. Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương theo nhiệm
kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ,
Ủy ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới
bầu ra Ủy ban nhân dân khóa mới.
3. Chính phủ lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động của
Ủy ban nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân.
Điều 7. Quan hệ công tác giữa chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương
1. Chính quyền địa phương phối hợp và phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận
động Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt
động của chính quyền địa phương.
2. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân
và được mời tham dự phiên họp của Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn về các vấn
đề có liên quan.
3. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình
của địa phương cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội cùng cấp.
12
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
4. Chính quyền địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và trả lời các
kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
ở địa phương tham gia xây dựng chính quyền; tiếp nhận, giải quyết và trả lời các ý
kiến, kiến nghị của Nhân dân địa phương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tổng hợp và chuyển đến.
Chương II
TỔ CHỨC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÀ THÀNH LẬP, GIẢI THỂ,
NHẬP, CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI
VÀ ĐỔI TÊN ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
Điều 8. Nguyên tắc tổ chức đơn vị hành chính và điều kiện thành lập, giải
thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
1. Việc tổ chức đơn vị hành chính được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông
suốt, liên tục của quản lý nhà nước;
b) Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, phù hợp với
đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo
đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của từng địa phương;
c) Phù hợp với năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương, mức độ
ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; bảo đảm các công việc, thủ tục
hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp và xã hội được tiếp nhận, giải
quyết kịp thời, thuận lợi;
d) Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính chưa đạt tiêu chuẩn theo
quy định của pháp luật.
2. Việc thành lập, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Phù hợp quy hoạch có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
của chính quyền địa phương các cấp; phát huy tiềm năng, lợi thế nhằm thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương;
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
13
c) Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; việc thành
lập đặc khu ở hải đảo còn phải bảo đảm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh
tế biển, thu hút người dân sinh sống tại đặc khu và phù hợp với chủ trương của cấp
có thẩm quyền;
d) Bảo đảm đoàn kết, bình đẳng các dân tộc, phù hợp với các yếu tố truyền
thống lịch sử, văn hóa của địa phương; tạo thuận lợi cho Nhân dân;
đ) Phải căn cứ vào tiêu chuẩn của đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm
nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Việc giải thể đơn vị hành chính chỉ thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa
phương hoặc của quốc gia;
b) Do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình tác động đến sự tồn tại của đơn vị
hành chính đó;
c) Do tổ chức lại đơn vị hành chính theo định hướng của cấp có thẩm quyền và
theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
1. Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn
vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã.
Điều 10. Trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính,
điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
1. Chính phủ phân công Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì xây dựng đề án
thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn
vị hành chính cấp tỉnh trình Chính phủ để trình Quốc hội; Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh tổ chức xây dựng đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã trình Chính phủ để trình Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
2. Hồ sơ đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới và đổi tên đơn vị hành chính gồm có:
14
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
a) Tờ trình về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
b) Đề án về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
c) Báo cáo tổng hợp ý kiến Nhân dân, ý kiến của Hội đồng nhân dân và các cơ
quan, tổ chức có liên quan;
d) Dự thảo nghị quyết của Quốc hội hoặc dự thảo nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.
3. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và
đổi tên đơn vị hành chính phải được lấy ý kiến Nhân dân ở những đơn vị hành
chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm
tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị
hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính bằng các hình thức
phù hợp theo quy định của Chính phủ.
4. Sau khi có kết quả lấy ý kiến Nhân dân, cơ quan xây dựng đề án có trách
nhiệm hoàn thiện đề án. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh thì gửi Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia
đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã thì gửi
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân cấp xã ở các đơn vị hành chính
có liên quan trực tiếp để xem xét, cho ý kiến.
5. Đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
và đổi tên đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phải được
thẩm định trước khi trình Chính phủ và được thẩm tra trước khi trình Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
6. Việc lập đề án, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua đề án thành lập, giải thể,
nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính thực
hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình tự, thủ tục xem xét, thông
qua đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi
tên đơn vị hành chính cấp tỉnh tại kỳ họp Quốc hội do Quốc hội quy định.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
15
Chương III
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN CỦA
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CÁC CẤP
Điều 11. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định
trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ
quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình
thức phân quyền, phân cấp.
2. Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các
nguyên tắc sau đây:
a) Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa
phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;
b) Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà
nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của
Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã;
bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan
nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và
giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;
c) Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;
d) Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có
hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát
của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều
chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân
quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
đ) Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật;
e) Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số;
16
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
g) Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên
thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn
đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị
quyết của Quốc hội có quy định khác.
Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao
cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên
quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành
chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa
phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết
những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo
đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người
dân, doanh nghiệp tốt hơn.
3. Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền
địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm
pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật này, bảo đảm quyền lực nhà nước
được kiểm soát hiệu quả. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc
Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh
nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.
Điều 12. Phân quyền
1. Việc phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp phải được quy định
trong luật, nghị quyết của Quốc hội, trong đó xác định rõ chủ thể thực hiện, nội
dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm các nguyên tắc phân định thẩm
quyền và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp
quy định tại Luật này.
2. Chính quyền địa phương tự chủ trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và
tự chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền; được
phân cấp, ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền theo quy
định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này, trừ trường hợp luật, nghị quyết của
Quốc hội quy định không được phân cấp, ủy quyền.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
17
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ đề nghị Quốc hội
phân quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
Chính phủ có trách nhiệm xem xét, giải quyết đề xuất của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh; trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Cơ quan nhà nước cấp trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát về tính hợp hiến, hợp pháp trong
việc chính quyền địa phương các cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được
phân quyền.
Điều 13. Phân cấp
1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc
Hội đồng nhân dân cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh phân cấp cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban
nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện liên
tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo
quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý thực hiện liên tục, thường xuyên
một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp
luật để tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc quản trị
đơn vị và cung ứng dịch vụ công, trừ trường hợp pháp luật quy định không được
phân cấp.
2. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan, cá nhân phân cấp. Cơ quan, cá nhân phân cấp chịu trách nhiệm bảo đảm các
điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp, trừ trường hợp cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có đề nghị và tự bảo đảm điều kiện
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
3. Cơ quan, cá nhân phân cấp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp, bảo đảm các nội dung phân cấp
được thực hiện hiệu lực, hiệu quả; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn mà mình phân cấp trong trường hợp không bảo đảm điều kiện theo quy
định tại khoản 2 Điều này.
18
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
4. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có quyền tham gia ý kiến
đối với dự thảo văn bản phân cấp; đề nghị cơ quan, cá nhân phân cấp điều chỉnh
nội dung phân cấp; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan, cá nhân phân
cấp về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; định kỳ báo cáo,
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và không được phân
cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được phân cấp.
5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phân cấp cho cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương được đề xuất
với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
với khả năng nếu đáp ứng các yêu cầu về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện
cần thiết khác.
6. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau
khi nhận được nội dung đề xuất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định
tại khoản 5 Điều này có trách nhiệm xem xét, giải quyết; trường hợp không đồng ý
thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
7. Trường hợp cần phải thay đổ
Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn
Cơ quan: VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
Thời gian ký: 26.06.2025 15:20:48 +07:00
8
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
QUỐC HỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Luật số: 72/2025/QH15
LUẬT
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đơn vị hành chính
1. Đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ
chức thành 02 cấp, gồm có:
a) Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
b) Xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
Xã là đơn vị hành chính ở nông thôn; phường là đơn vị hành chính ở đô thị;
đặc khu là đơn vị hành chính ở một số hải đảo có vị trí quan trọng được thành lập
phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, đặc điểm dân cư và yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là địa bàn có vị trí chiến lược, được tổ
chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội,
thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
vùng và cả nước. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định
thành lập.
Điều 2. Tổ chức chính quyền địa phương
1. Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 Điều 1
của Luật này, trừ đơn vị hành chính quy định tại Điều 28 của Luật này, là cấp
chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
9
2. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội
quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.
Điều 3. Phân loại đơn vị hành chính
1. Phân loại đơn vị hành chính là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính.
2. Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện
tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng
loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Chính phủ.
Điều 4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hội đồng nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; đồng
thời đề cao thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
2. Tổ chức chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương chuyên nghiệp, hiện đại, thực hiện hiệu quả
ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương, bảo đảm trách nhiệm giải trình gắn với cơ chế kiểm soát
quyền lực.
3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xây dựng chính quyền địa phương
gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự
kiểm tra, giám sát của Nhân dân; thực hiện đầy đủ cơ chế phản biện xã hội của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.
4. Bảo đảm nền hành chính minh bạch, thống nhất, thông suốt, liên tục.
5. Những công việc thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương phải do
chính quyền địa phương quyết định và tổ chức thực hiện; phát huy vai trò tự chủ
và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.
6. Phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và chính
quyền địa phương; giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa
phương cấp xã.
10
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
Điều 5. Hội đồng nhân dân
1. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa
phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng
của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng
nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
a) Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công
cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
b) Chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
c) Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương
mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi
phạm pháp luật khác;
d) Có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công
tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động
của Hội đồng nhân dân;
đ) Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị
hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân;
e) Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân
dân tín nhiệm.
4. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm kể từ ngày khai mạc
kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ
nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới. Việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của
Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
11
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng
nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng nhân dân. Chính phủ
hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn do luật định.
Điều 6. Ủy ban nhân dân
1. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội
đồng nhân dân ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội
đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
2. Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương theo nhiệm
kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ,
Ủy ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới
bầu ra Ủy ban nhân dân khóa mới.
3. Chính phủ lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động của
Ủy ban nhân dân; ban hành Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân.
Điều 7. Quan hệ công tác giữa chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương
1. Chính quyền địa phương phối hợp và phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận
động Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt
động của chính quyền địa phương.
2. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân
và được mời tham dự phiên họp của Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn về các vấn
đề có liên quan.
3. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình
của địa phương cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội cùng cấp.
12
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
4. Chính quyền địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và trả lời các
kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
ở địa phương tham gia xây dựng chính quyền; tiếp nhận, giải quyết và trả lời các ý
kiến, kiến nghị của Nhân dân địa phương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tổng hợp và chuyển đến.
Chương II
TỔ CHỨC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÀ THÀNH LẬP, GIẢI THỂ,
NHẬP, CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI
VÀ ĐỔI TÊN ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
Điều 8. Nguyên tắc tổ chức đơn vị hành chính và điều kiện thành lập, giải
thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
1. Việc tổ chức đơn vị hành chính được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông
suốt, liên tục của quản lý nhà nước;
b) Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, phù hợp với
đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo
đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của từng địa phương;
c) Phù hợp với năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương, mức độ
ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; bảo đảm các công việc, thủ tục
hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp và xã hội được tiếp nhận, giải
quyết kịp thời, thuận lợi;
d) Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính chưa đạt tiêu chuẩn theo
quy định của pháp luật.
2. Việc thành lập, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Phù hợp quy hoạch có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
của chính quyền địa phương các cấp; phát huy tiềm năng, lợi thế nhằm thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương;
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
13
c) Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; việc thành
lập đặc khu ở hải đảo còn phải bảo đảm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh
tế biển, thu hút người dân sinh sống tại đặc khu và phù hợp với chủ trương của cấp
có thẩm quyền;
d) Bảo đảm đoàn kết, bình đẳng các dân tộc, phù hợp với các yếu tố truyền
thống lịch sử, văn hóa của địa phương; tạo thuận lợi cho Nhân dân;
đ) Phải căn cứ vào tiêu chuẩn của đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm
nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Việc giải thể đơn vị hành chính chỉ thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa
phương hoặc của quốc gia;
b) Do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình tác động đến sự tồn tại của đơn vị
hành chính đó;
c) Do tổ chức lại đơn vị hành chính theo định hướng của cấp có thẩm quyền và
theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
1. Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn
vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã.
Điều 10. Trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính,
điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính
1. Chính phủ phân công Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì xây dựng đề án
thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn
vị hành chính cấp tỉnh trình Chính phủ để trình Quốc hội; Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh tổ chức xây dựng đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã trình Chính phủ để trình Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
2. Hồ sơ đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới và đổi tên đơn vị hành chính gồm có:
14
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
a) Tờ trình về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
b) Đề án về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
c) Báo cáo tổng hợp ý kiến Nhân dân, ý kiến của Hội đồng nhân dân và các cơ
quan, tổ chức có liên quan;
d) Dự thảo nghị quyết của Quốc hội hoặc dự thảo nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.
3. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và
đổi tên đơn vị hành chính phải được lấy ý kiến Nhân dân ở những đơn vị hành
chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm
tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị
hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính bằng các hình thức
phù hợp theo quy định của Chính phủ.
4. Sau khi có kết quả lấy ý kiến Nhân dân, cơ quan xây dựng đề án có trách
nhiệm hoàn thiện đề án. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành
chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh thì gửi Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến. Đối với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia
đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã thì gửi
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân cấp xã ở các đơn vị hành chính
có liên quan trực tiếp để xem xét, cho ý kiến.
5. Đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
và đổi tên đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phải được
thẩm định trước khi trình Chính phủ và được thẩm tra trước khi trình Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
6. Việc lập đề án, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua đề án thành lập, giải thể,
nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính thực
hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình tự, thủ tục xem xét, thông
qua đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi
tên đơn vị hành chính cấp tỉnh tại kỳ họp Quốc hội do Quốc hội quy định.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
15
Chương III
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN CỦA
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CÁC CẤP
Điều 11. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định
trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ
quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình
thức phân quyền, phân cấp.
2. Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các
nguyên tắc sau đây:
a) Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa
phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;
b) Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà
nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của
Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã;
bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan
nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và
giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;
c) Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;
d) Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có
hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát
của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều
chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân
quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
đ) Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật;
e) Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số;
16
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
g) Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên
thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn
đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị
quyết của Quốc hội có quy định khác.
Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao
cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên
quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành
chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa
phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết
những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo
đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người
dân, doanh nghiệp tốt hơn.
3. Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền
địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm
pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật này, bảo đảm quyền lực nhà nước
được kiểm soát hiệu quả. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc
Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh
nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.
Điều 12. Phân quyền
1. Việc phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp phải được quy định
trong luật, nghị quyết của Quốc hội, trong đó xác định rõ chủ thể thực hiện, nội
dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm các nguyên tắc phân định thẩm
quyền và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp
quy định tại Luật này.
2. Chính quyền địa phương tự chủ trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và
tự chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền; được
phân cấp, ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền theo quy
định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này, trừ trường hợp luật, nghị quyết của
Quốc hội quy định không được phân cấp, ủy quyền.
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
17
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ đề nghị Quốc hội
phân quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
Chính phủ có trách nhiệm xem xét, giải quyết đề xuất của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh; trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Cơ quan nhà nước cấp trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát về tính hợp hiến, hợp pháp trong
việc chính quyền địa phương các cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được
phân quyền.
Điều 13. Phân cấp
1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc
Hội đồng nhân dân cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh phân cấp cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban
nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện liên
tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo
quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý thực hiện liên tục, thường xuyên
một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp
luật để tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc quản trị
đơn vị và cung ứng dịch vụ công, trừ trường hợp pháp luật quy định không được
phân cấp.
2. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan, cá nhân phân cấp. Cơ quan, cá nhân phân cấp chịu trách nhiệm bảo đảm các
điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp, trừ trường hợp cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có đề nghị và tự bảo đảm điều kiện
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
3. Cơ quan, cá nhân phân cấp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp, bảo đảm các nội dung phân cấp
được thực hiện hiệu lực, hiệu quả; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn mà mình phân cấp trong trường hợp không bảo đảm điều kiện theo quy
định tại khoản 2 Điều này.
18
CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
4. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được phân cấp có quyền tham gia ý kiến
đối với dự thảo văn bản phân cấp; đề nghị cơ quan, cá nhân phân cấp điều chỉnh
nội dung phân cấp; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan, cá nhân phân
cấp về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; định kỳ báo cáo,
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và không được phân
cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được phân cấp.
5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phân cấp cho cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương được đề xuất
với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp
với khả năng nếu đáp ứng các yêu cầu về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện
cần thiết khác.
6. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau
khi nhận được nội dung đề xuất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định
tại khoản 5 Điều này có trách nhiệm xem xét, giải quyết; trường hợp không đồng ý
thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
7. Trường hợp cần phải thay đổ
 





